Phần 14: Định nghĩa về nhận thức (phần 2)

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó. (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất). 

– Theo Từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan. Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức”. Theo tác giả này “nhận thức còn là nhận biết và hiểu”.

– Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (chủ biên) định nghĩa: “Nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó”.

– Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) định nghĩa: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan”. 

Từ những quan niệm trên, có thể thấy rằng nhận thức có một số đặc trưng như sau:

  • Một là, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não của con người. 
  • Hai là, nhận thức bao gồm hai quá trình có mối quan hệ biện chứng với nhau là nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính. Ngoài ra còn có trí nhớ và chú ý.
  • Ba là, thực tiễn xã hội vừa là cơ sở và vừa là mục đích của nhận thức.

Tóm lại, có có thể hiểu khái niệm “nhận thức” như sau: Nhận thức là sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vào não của con người, bao gồm các quá trình nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính.

Leave a Reply

en_USEnglish

Discover more from Wisedoo

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading