Để có thể xây dựng và duy trì động lực học tập bền bỉ thì trước tiên chúng ta cần hiểu về quá trình hình thành động lực và các yếu tố tạo nên động lực.
Có rất nhiều nghiên cứu và lý thuyết xoay quanh động lực học tập. WisEdoo chọn giới thiệu đến bạn Thuyết tự quyết, tên tiếng Anh là Self-determination theory, vì tính ứng dụng cao.
Thuyết tự quyết được nghiên cứu bởi hai nhà tâm lý học Richard Ryan và Edward Deci, nhằm phát triển động lực của con người. Lý thuyết phân loại động cơ thành 3 loại: Động lực nội tại, động lực bên ngoài, và trường hợp không có động lực.
1. Động lực nội tại

Động lực nội tại ở đây có nghĩa là động lực học tập đến từ bên trong chịu ảnh hưởng của sở thích, tham vọng, nguyện vọng, nhận thức, năng lực, điều kiện thể chất và tâm lý cá nhân.
Một số ví dụ cho thấy người học có động lực nội tại là:
- Họ có động lực học hỏi và đạt được kiến thức mới như niềm vui khi học những điều mới
- Hoặc là họ cảm thấy được sự khích lệ tinh thần và niềm vui thể chất khi học những tài liệu thú vị
- Hoặc là họ cảm thấy hưng phấn và tràn đầy năng lượng khi chinh phục những nhiệm vụ học tập đầy thách thức.
2. Động lực bên ngoài

Động lực bên ngoài là những động lực học tập đến từ bên ngoài, gắn với việc thực hiện một hành động nhằm đạt được một kết quả không liên quan đến hành động đó. Động lực bên ngoài bị ảnh hưởng bởi điều kiện học tập, điều kiện xã hội, điều kiện gia đình và các phương tiện hỗ trợ. Động lực học tập bên ngoài có thể liên quan đến:
- Có được phần thưởng bên ngoài, ví dụ thích được quà bố mẹ hứa tặng nếu đạt học sinh giỏi
- Tránh những tình huống xấu hoặc tránh mắc lỗi, ví dụ như cố gắng được điểm cao để không bị bố mẹ mắng
- Đạt được lợi ích cụ thể, chẳng hạn như học một kỹ năng để phục vụ cho công việc trong tương lai.
Phần lớn chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi cả động lực bên ngoài và động lực bên trong, nhưng ở những mức độ khác nhau. Hai nhà tâm lý học Niemec và Ryan đã sắp xếp động lực bên ngoài theo 4 mức, với mức độ tự chủ từ thấp đến cao:
- Động lực được điều chỉnh bên ngoài là động lực có mức độ tự chủ thấp nhất là động lực thôi thúc chủ thế hướng đến kết quả bên ngoài mà không liên quan trực tiếp đến hành động thực hiện. Thường thì kết quả đó là phần thưởng hay hình phạt. ví dụ: học sinh có động lực được điểm trên trung bình để không bị phụ huynh phạt.
- Tiếp theo là điều chỉnh nội nhập: con người hành động bởi sự thôi thúc từ áp lực bên trong hay để đạt được những sự khen ngợi hay niềm kiêu hãnh. Ví dụ: học sinh cố gắng làm hết bài tập về nhà vì bạn sẽ rất xấu hổ trước lớp nếu giáo viên gọi lên sửa bài mà không biết làm. Hoặc sinh viên cố hết sức để đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại xuất sắc vì đó là một thành tích giúp họ thấy tự hào về bản thân.
- Tiến tới mức độ tự chủ cao hơn là điều chỉnh đồng nhất. động lực này sinh ra khi cá nhân bắt đầu nhận thức được lợi ích, giá trị của hành vi mình thực hiện và làm nó một cách tự nguyện. Lấy ví dụ, một bạn học sinh cố gắng đạt điểm cao trong kỳ thi cuối cấp, động lực của bạn không phải vì sợ thất bại và không được lên cấp học mới hay vì sợ bố mẹ bạn phạt, mà vì bạn đã nhận thấy được sự quan trọng của môn này là giúp bạn đánh giá chất lượng học tập những năm qua và sắp được bước qua một giai đoạn mới.
- Mức độ tự chủ cao nhất là điều chỉnh hợp nhất, nghĩa là khi động lực bên ngoài hoàn toàn phù hợp với hệ giá trị và nhu cầu của cá nhân. Ví dụ: một bạn học sinh quyết định theo học ngành Sư phạm vì nó đáp ứng ước mơ dạy học và làm giáo dục của bạn, đồng thời bạn cũng nhận thấy bạn có tố chất và tiềm năng trong công việc này.
Chúng ta cần lưu ý rằng kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng các yếu tố của động lực bên ngoài cần trải qua quá trình “nội nhập”, tức là nó phải điều chỉnh để trở thành đồng nhất hay hợp nhất với động lực nội tại thì mới phát huy được tối đa sự tự quyết của người học. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng khi động lực có mang tính tự quyết thì kết quả học tập, tâm lý của người học cũng sẽ có những chuyển biến tích cực.
Nghiên cứu nào chứng minh cho điều này?
Một nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm học sinh lớp 5 với yêu cầu đọc sách giáo khoa. Cụ thể nhóm 1 được giao bài và dặn dò rằng sẽ không có kiểm tra hay bất kỳ hình thức tính điểm nào, vì mục đích là để biết các bạn học được những gì. Nhóm học sinh thứ 2 được giao cùng bài đọc nhưng được dặn là học kỹ để làm kiểm tra. Với yêu cầu cao hơn, áp lực cao hơn, bạn có nghĩ rằng nhóm 2 này sẽ có động lực học tốt hơn nhóm 1 không?
Kết quả của nghiên cứu khá bất ngờ khi cho thấy những học sinh ở nhóm 1 có độ tự chủ cao hơn và hiểu nhiều hơn về bài đọc. Trong khi nhóm 2 lại được báo cáo có áp lực cao hơn và thậm chí còn quên nhiều hơn nhóm 1 sau 1 tuần quay lại theo dõi tiếp.
Kết quả này đã cho thấy những đứa trẻ bị thúc đẩy bởi kết quả kiểm tra đã học trong áp lực hơn là học để hiểu, điều đó dẫn đến việc quên nhanh hơn.
Ngược lại, các nghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra rằng hai loại động cơ có mức độ tự chủ thấp là điều chỉnh bên ngoài và điều chỉnh nội nhập có mối tương quan tỉ lệ thuận với sự lo lắng, nỗi tức giận, chán nản, tuyệt vọng và thái độ tiêu cực.
Như vậy chúng ta đã đi qua các phân tích về động lực dưới thuyết tự quyết.
Tự chiêm nghiệm
Sau khi nghiên cứu về thuyết tự quyết, chúng ta hãy tạm dừng ở đây để cùng nhau nhìn lại động lực của bản thân: Chúng ta đang học vì điều gì? Những điều gì bên ngoài hay yếu tố tâm lý bên trong đang có tác động đến động lực học tập của chúng ta? Nếu chúng ta đang cảm thấy chán nản, mệt mỏi, căng thẳng với việc học thì có thể chúng ta cần nhìn nhận lại động lực học tập của bản thân để có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Ở bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận các phương pháp cụ thể để nâng cao mức độ tự chủ và duy trì động lực mang tính tự quyết.

